Thứ Hai, 30 tháng 4, 2007

Bình thơ: CHUỖI CƯỜM THI CA của Thanh Thảo

CHUỖI CƯỜM


Từ ô cửa sổ nhìn ra


Tôi thấy cô gái, ngôi nhà, cái cây


Ngôi nhà vôi gạch đang xây


Cô gái đang lớn, cái cây chưa già


Từ ô cửa sổ nhìn ra


Thời gian khi ấy mượt mà tóc xanh


Tôi hay nghĩ điều chưa thành


Những màu sắc lạ thoáng nhanh trong đầu


Tôi hay xâu chuỗi vào nhau


Những chữ rời rạc như xâu hạt cườm


Có khi dùng sợi chỉ thường


Có khi là một chuỗi cườm không dây


 


Nhìn ra từ cửa sổ này


Tôi thấy cô  gái, cái cây, ngôi nhà…


1984


THANH THẢO


(Tuyển tập thơ tình lục bát Việt Nam, NXB Văn hoá 1994)


Đọc bài thơ tưởng chừng như không có gì của Thanh Thảo, tôi bỗng có một ý nghĩ ngộ ngộ trong đầu: ông nhà thơ này quái lắm, định làm một trò ru-bic kiểu phôn-cờ-lo đây! Này nhé, ca dao chả đã có con kiến lòng vòng ư:


Con kiến mà leo cành đa


Leo phải cành cụt leo ra leo vào


Con kiến mà leo cành đào


Leo phải cành cụt leo vào leo ra…


Cái CHUỖI CƯỜM thơ của Thanh Thảo mở khép theo một kết cấu vòng lặp như vậy, nhưng không phải là cái vòng luẩn quẩn của chữ nghĩa hay chỉ đơn thuần tạo một xâu chuỗi hình ảnh, sự kiện cho phù hợp với tên gọi của bài thơ. Xét cho cùng, làm thơ là để trải những chiêm nghiệm của mình ra trướccuộc đời, chưng cất lại tất thảy những gì tai nghe, mắt thấy. Thanh Thảo có nói đến các chất liệu để kết dính bài thơ này của anh gồm: chỗ đứng từ ô cửa sổ, cô gái – ngôi nhà – cái cây và cái “tôi thấy” của anh. Và không như các thợ xây chuyên nghiệp hì hục trộn vữa để kết dính, anh tạo bài thơ theo cách của mình. Anh có phạm nguyên tắc làm thơ “mạch kỵ lộ” chăng? Ai lại huỵch toẹt ra một cách chẳng-có-gì-là-thơ như thế:


Tôi hay xâu chuỗi vào nhau


Những chữ rời rạc như xâu hạt cườm


Có khi dùng sợi chỉ thường


Có khi là một chuỗi cườm không dây


Nhưng tôi lại nghĩ anh đang phát biểu quan niệm của mình về thi ca, về công việc sáng tạo của mình. Đơn giản thế thôi! Ấy vậy mà có “kiêu” ngầm, vì xâu chuỗi ai cũng làm được, còn chuỗi cườm không dây thì…chỉ có thơ mới làm được. Thanh Thảo giấu đi một cụm từ anh rất ưa dùng trong cái chuỗi cườm không dây ấy, đó là hai chữ “bùng nổ”. Thanh Thảo hình dung sự bùng nổ thi ca như một bãi mìn, còn đám làm thơ trẻ lau nhau chúng tôi bây giờ thường ví von sức nổ bùng của nguyên tử, của hạch nhân và của tâm linh gì gì nữa. Nhưng xét cho cùng, bao giờ thơ cũng cần một sự bùng nổ, của cảm xúc, của suy tưởng và tối kỵ cái thứ nhàn nhạt không bản sắc. Trong bài thơ này của Thanh Thảo cũng thế, cô gái – ngôi nhà – cái cây là nguyên cớ để hình thành tứ cho nhà thơ. Cái tứ về con người - cuộc sống – thiên nhiên, cái tứ về thời gian luôn là một nỗi ám ảnh của các nhà thơ. Và Thanh Thảo còn đi xa hơn:


…Thời gian khi ấy mượt mà tóc xanh


Tôi hay nghĩ điều chưa thành


Những màu sắc lạ thoáng nhanh trong đầu


Phải chăng đó cũng là điều Thanh Thảo suy ngẫm từ “những điều trông thấy”? Những vẻ đẹp cuộc sống, dưới con mắt nhà thơ, bao giờ cũng lung linh hơn.  Chỉ cần  một “ô cửa sổ”  để nhìn ra cuộc sống, và lắng nghe, và cảm nhận. Có lẽ Thanh Thảo muốn đưa đến một thông điệp: đừng hững hờ với những gì xung quanh bạn, lúc ấy thơ sẽ đến, không cần phải màu mè.


Kết của bài thơ như một sự bỏ lửng, để người đọc tiếp tục những suy tư sau điều tôi thấy của nhà thơ. Riêng tôi, cứ vương vít mãi âm điệu lục bát để chuyển tải sự hiện hữu của thi ca giữa đời thường của nhà thơ. Sợi chỉ thường ấy đã xâu chuỗi thành bao hạt cườm lung linh màu sắc, dường như đó cũng là một chuỗi cườm không dây!


                                                                        1999 – 2007

                                                                                     Trần Hà Nam

KẺ TÌNH SI QUÊN THỜI ĐẠI

Nguyễn Thanh Mừng vốn là kẻ nặng lòng với những vẻ đẹp quá khứ. Trong một lần cầm viên gạch Chàm trên tay, khẽ gõ vào, anh chợt nghe vọng về câu chuyện của nàng công chúa Huyền Trân và vị vua anh hùng Chiêm quốc Chế Mân. Trong anh, cái ranh giới xưa – nay bỗng nhạt nhoà, cái tôi thi sĩ đã nhập vai vào tráng sĩ Đại Việt thuở nào:


ĐÁM CƯỚI HUYỀN TRÂN


Nghe đồn vua xứ Chà Bàn


Dâng miền Ô, Lý rước nàng vu qui


Tôi mang rượu đến biên thuỳ


Hắt lên mây trắng biệt li, cả cười


 


Thân không tấc đất cắm dùi


Bể sông thi phú, trăng trời phong sương


Cắn răng nhường bậc đế vương


Gươm cùn quẳng xuống vệ đường nhân duyên


 


Thôi nàng hãy tạm nguôi quên


Tôi chàng trai Việt còn trên đời này


Quyết thâu trăm họ về tay


Binh nhung ruổi chốn lưu đày tìm nhau


            (Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam)


Bài thơ toàn những câu chữ cũ càng để làm sống dậy cái không khí cổ xưa. Nên khi đọc Đám cưới Huyền Trân, có lúc tôi ngỡ mình đang được tham dự vào một cuộc lên-đồng chữ-nghĩa. Gã họ Nguyễn làm thơ hoá thân để gửi gắm nàng Huyền Trân dăm lời nhắn nhủ mang khẩu khí Đông – A!


Nhưng dũng tướng đời Trần – Thanh Mừng lại mang tâm sự của một kẻ thua thiệt trên tình trường. Dù muốn k iêu bạc bao nhiêu đi chăng nữa, vẫn không tránh khỏi ngậm ngùi. Từ khi “đem rượu đến biên thuỳ” là đã chậm chân, đến lúc “gươm cùn quẳng xuống vệ đường nhân duyên” thì đã chán nản đến cùng cực. Lúc ấy chàng ta giống Nguyễn Bính của thời Thơ Mới:


Chua xót lòng tôi mơ ước mãi


Áo bào nguyệt bạch, ngựa kim ô


            (Một trời quan tái)


Ở nhân vật tôi mà Nguyễn Thanh Mừng nhập vào xác, tôi đoan chắc rằng không có một tí ti hồn của danh tướng Trần Khắc Chung của một thời đại lừng lẫy chiến công. Dù cho chàng ta cố cứng cỏi gương dậy bằng những lời lẽ như tự nhủ:


Thôi nàng hãy tạm nguôi quên


Tôi chàng trai Việt còn trên đời này


Quyết thâu trăm họ về tay


Binh nhung ruổi chốn lưu đày tìm nhau


Tôi chợt chạnh thương Huyền Trân công chúa! Giả sử nàng có một kẻ tình si như vậy, e rằng khi hắn đến tìm, nàng đã hoá thành tro bụi nơi hắn gọi là “chốn lưu đày” rồi! Mà như vậy, e rằng nàng thà làm ma hoàng hậu nước Chiêm còn hạnh phúc hơn!Thử ngẫm mà xem: Dương Quý Phi về tay Đường Minh Hoàng, người tình An Lộ Sơn lập tức dấy binh quyết không chịu “cắn răng nhường bậc đế vương”; Từ Hải cứu Kiều ra khỏi chốn lầu xanh nhơ nhớp đâu cần phải viện đến “binh nhung” nhưng đến lúc trả hận cho Kiều mới cho “ba quân chỉ ngọn cờ đào” rửa sạch oan khổ lưu li cho nàng. Thanh Mừng không học được người xưa nên đã đem vào bóng dáng người xưa cốt cách yếu đuối thi sĩ của mình. Thiết nghĩ, một kẻ có tâm hồn “bể sông thi phú, trăng trời phong sương”, có khí phách kiêu hùng “Tôi chàng trai Việt còn trên đời này” không nên chờ đợi như thế!


Cái đọng lại trong lòng người đọc lại là “đám cưới” và “Huyền Trân” Trớ trêu là chỗ ấy! Vua xứ Chà Bàn - kẻ tình địch đáng ghét kia mới thật si tình làm sao, hào hoa làm sao:


Dâng miền Ô, Lý rước nàng vu qui


Một câu thơ với hai chữ “dâng” và “rước” đã tái hiện cuộc “vu qui” của huyền Trân công chúa thật hoành tráng. Dù cho thân phận của nàng thật bạc bẽo khi được đưa ra làm vật đánh đổi thì giá trị của nàng đã được nâng lên hoàn toàn xứng đáng với hai châu Ô, Lý! Câu thơ đầy trân trọng này của Thanh Mừng thật sự đã tạo được tầm vóc của Huyền Trân công chúa trong lịch sử. Chính vì thế, người đọc cũng mỉm cười mà lượng thứ cho kẻ tự nhận là người tình của nàng để “tìm nhau”.


Bởi, ai nỡ trách một gã làm thơ thả hồn tìm “người trong mộng” của gần bảy trăm năm trước, để tôn vinh một nữ lưu của dân tộc đã đem về hai châu Ô, Lý và đã đi vào dã sử cùng mối tình với danh tướng Khắc Chung.


Công chúa Huyền Trân bỗng đẹp thêm trong mắt của kẻ tình si quên thời đại Nguyễn Thanh Mừng!


                                                                        7.1999 – 4.2007

                                                                        Trần Hà Nam

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2007

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2007

Tiểu tử Tà


Ao hè nông choẹt nước lẫn bèo!
Cu Lương câu cá ngó bèo nhèo


Hắn là Trần Hữu Thiên Lương!
Update 4 new photos

Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2007

CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG BÀI THƠ THỜI GIAN CỦA HÀN MẶC TỬ


Còn đâu tráng lệ những thời xanh


Mùi vị thơm tho một ái tình


Đố kiếm cho ra trong lớp bụi


Ít nhiều hơi hám của kiên trinh


Đừng tưởng ngàn xưa còn phảng phất


Nơi làn gió nhẹ lúc ban đêm


Hồn xưa tự ấy không về nữa


Ở cõi hư vô dấu đã chìm


Chỉ có trăng sao là bất diệt


Cái gì khác nữa thảy đi qua


Tây Thi nàng hỡi bao nhiêu tuổi


Vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà?


Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé


Xin đừng luân chuyển để thời gian


Chậm đi cho kẻ tôi yêu dấu


Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân.


H.M.T


(Đau thương - phần Hương thơm)


Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là một trong những hiện tượng đặc sắc của phong trào Thơ Mới Việt Nam (1932 – 1945), đặc biệt ở tập thơ Đau thương (tức Thơ Điên) đã có một sự kết hợp độc đáo của một tâm hồn thống khổ vì bệnh tật, tình duyên, bị tách biệt khỏi cuộc đời với một khả năng trác tuyệt của một cây bút sáng tạo cách tân để tạo thành những bài thơ cho đến nay vẫn chưa thể giải mã được cặn kẽ. Đứng từ góc độ thi pháp học, người viết xin nêu một vài suy nghĩ nhỏ về thời gian nghệ thuật trong một tác phẩm cụ thể: bài thơ Thời gian , nằm trong phần Hương thơm của tập thơ Đau thương.


Trước khi sáng tác thơ mới, Hàn Mặc Tử đã nổi tiếng là một người làm thơ Đường luật điêu luyện. Bởi thế, chắc chắn nhà thơ không hề xa lạ với những quan niệm thời gian đã thành khuôn mẫu, chuẩn mực truyền thống của luật thơ có ảnh hưởng đến cả hàng nghìn năm văn học phương Đông này. Thời gian trong thơ Đường với những đặc trưng: thời gian bất biến gắn với không gian vũ trụ, những biểu tượng thời gian mang ý nghĩa ước lệ tượng trưng. Bởi thế, muốn thấy rõ dấu ấn thay đổi quan niệm nghệ thuật từ thơ cũ sang thơ mới, không thể không phân tích sự thay đổi quan niệm về thời gian trong thơ của Hàn Mặc Tử, ý thức thời gian gắn liền với cảm quan thẩm mỹ của thơ mới, với cái tôi cá nhân cá thể ý thức được sự hiện hữu cũng như muốn bày tỏ khát vọng chiếm lĩnh vẻ đẹp, bộc lộ chính mình. Lấy nhan đề bài thơ là Thời gian , phải chăng nhà thơ muốn phát biểu trực tiếp quan niệm của chủ thể trữ tình, quan niệm của chủ nghĩa lãng mạn muốn phá bỏ những thành trì của thơ cổ điển?


Trước hết có thể nhận ra nhà thơ muốn hợp nhất thời gian với tình yêu và tuổi trẻ, trong sự đối lập với thời gian đã qua với thời gian hiện tại. Đó không phải là thời gian vô hình mà là thời gian đã được vật chất hoá, có thể nhận biết qua các dấu hiệu ngôn ngữ biểu trưng và sự kết hợp ngôn từ độc đáo: thời xanh, mùi vị thơm tho, ái tình. Thời gian ấy không phải của kiếp người, đời người gắn với cảm nhận nhân thế, thời thế mà cụ thể hoá trong thời gian cá thể: một ái tình! Xuất hiện ngay từ khổ thơ đầu của bài thơ là một cảm thức tiếc nuối thời gian một đi không trở lại trong cấu trúc câu hỏi "còn đâu…?" tạo nên cảm giác hụut hẫng, mất mát, không giống với sự trôi chảy thông thường mà đồng nghĩa với mất mát tuổi trẻ và tình yêu. Thực ra cảm thức về sự mất mát này từng được nhắc đến trong thơ cổ điển với tần số không ít, cả thơ Trung Hoa lẫn Việt Nam nhưng các nhà thơ xưa thường cảm nhận sự bất biến của thời gian trong quan niệm thời gian tuần hoàn của vũ trụ đối lập với thời gian đời người mất đi vĩnh viễn. Hàn Mặc Tử đã tuyên chiến với quan niệm ấy bằng thái độ dứt khoát, thách đố với những chữ đố, đừng tưởng hướng vào những người ôm ảo tưởng về thời gian vũ trụ tuần hoàn.


Bằng thái độ phủ nhận, nhà thơ đã phát biểu rõ quan niệm của mình trong khổ thơ thứ hai:


Đừng tưởng ngàn xưa còn phảng phất


Nơi làn gió nhẹ lúc ban đêm


Hồn xưa tự ấy không về nữa


Ở cõi hư vô dấu đã chìm


Theo cách nói này, cũng có nghĩa là không có "ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay” (dịch thơ Thôi Hiệu đời Đường), biểu trưng của thời gian vũ trụ bất biến, tuần hoàn. Điều đó cũng có nghĩa là không có sự hiện hữu của quá khứ trong thời gian thực tại, trong vẻ đẹp hiện thực. Tác giả định danh và liên tưởng các giá trị thời gian bằng chuỗi từ ngàn xưa - hồn xưa – cõi hư vô, nhằm khẳng định một giá trị âm. Những cái “xưa" ấy chỉ là "hư vô", tập hợp rỗng. Cùng với hồn xưa không về nữa từ ngàn xưa - thời điểm được xác định là tự ấy đồng thời làm hiện lên một không gian trống vắng, hoang lạnh, điêu tàn, càng làm tăng ấn tượng đau thương. Vậy thì hương thơm có tồn tại trong thời gian này hay không? Cái gì còn lại khi ngàn xưa, hồn xưa đã biệt mù tăm tích?


Chỉ có trăng sao là bất diệt


Cái gì khác nữa thảy đi qua


Tây Thi nàng hỡi bao nhiêu tuổi


Vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà?


Nếu như ở hai khổ đầu là cảm nhận về thời gian thực thì đến khổ thứ ba này Hàn Mặc Tử đã "ảo hoá" thời gian. Có một sự kết hợp rất độc đáo quan niệm của thơ lãng mạn, thơ tượng trưng với các biểu tượng của thơ ca cổ điển Trung Hoa. Nếu lớp bụi, thời gian quá khứ đánh dấu sự tan rữa của giá trị vĩnh hằng – kiên trinh như nhà thơ đã tuyên bố thì phải chăng ở khổ này ông tự mâu thuẫn với chính mình. Khác với các nhà thơ cổ điển nhận ra ở trăng sao sự đồng nhất hay tuần hoàn của thời gian vũ trụ thì Hàn Mặc Tử chỉ thừa nhận ý nghĩa biểu tượng ánh sáng – cái đẹp tồn tại vĩnh hằng mà thôi. Ánh sáng bất diệt ấy vượt qua quy luật của thời gian, thể hiện khát khao hướng về cái đẹp tuyệt đối của thi sĩ lãng mạn Hàn Mặc Tử. Ở ý thơ này, Hàn Mặc Tử cũng đối lập với một nhà thơ mới khác là Xuân Diệu (Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn - Giục giã). Hàn Mặc Tử hướng về Cái Đẹp tuyệt đối, tạo ra một địa chỉ lưu giữ vĩnh viễn vẻ đẹp thời gian trong con người hiện tại. Ngôn ngữ đối thoại như người đồng thời với Tây Thi - người đẹp thời Chiến quốc đã xác lập mối quan hệ thời gian xưa – nay một cách độc đáo, tạo thành dòng thời gian tâm tưởng, thời gian khát vọng vượt qua hư vô một cách mãnh liệt. Qua đó, nhà thơ bộc lộ cảm giác mê đắm ngất say trước vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà.


Khát vọng hướng về cái đẹp đã khiến nhà thơ rơi vào trạng thái hoang mang, khẩn cầu trước quy luật của tạo hoá. Đó cũng là mâu thuẫn giữa khát vọng và hiện thực của các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới. Dù cách diễn đạt khác nhau nhưng thường trực ý thức về thời gian gắn với cái đẹp khiến các nhà thơ mới gặp nhau trong quan niệm. Cũng giống như Xuân Diệu muốn "tắt nắng", "buộc gió" cho "màu đừng nhạt mất ", "hương đừng bay đi" thì Hàn Mặc Tử đã khấn nguyện da diết:


Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé


Xin đừng luân chuyển để thời gian


Chậm đi cho kẻ tôi yêu dấu


Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân


Rõ ràng một mặt nhà thơ nắm rõ quy luật vận động của thời gian, mặt khác nhà thơ lại muốn cưỡng quy luật biến đổi ấy. Đó là mâu thuẫn bên trong của tâm hồn yêu cái đẹp, xung đột giữa hiện thực và khát vọng không thể hoá giải. Nhưng đó cũng là cách nhà thơ khẳng định lòng mình, trân trọng nâng niu những khoảnh khắc thời gian hằng sống, bộc lộ cái tôi cá nhân mãnh liệt nhất. Trái tim vẫn giữ màu tươi của tình yêu, của cái đẹp đến muôn đời. Bài thơ giúp ta hiểu hơn về quan niệm thời gian, quan niệm sống của Hàn Mặc Tử, đồng thời hiểu thêm giá trị của Cái Đẹp, của Tình Yêu qua những vần thơ chan chứa tình yêu sự sống và con người của nhà thơ.


Hà Nội, ngày 16 tháng 3 năm 2007


TRẦN HÀ NAM

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2007

Ngồi hàng Net

Hôm nay đáng lẽ có mặt ở Sài Gòn để nhận giải thưởng www.ngoisaoblog.com. Nhưng lại phải ngồi hàng Net, chờ bạn đi công chuyện! Nhìn xung quanh, chủ yếu là chơi Game, còn lại là chat! Có lẽ đây là lần ngồi thiền lâu nhất ở hàng net! Tưởng tượng một ngày ngồi hàng Net, mà mình hết tiền, kẹt nét thì có... em nào cứu không nhỉ?
Tin nhắn liên tục chúc mừng, lại còn PV đồng hương Ngọc Ánh điện thoại đòi phỏng vấn nữa chứ! Ngồi mãi cũng nhàm, muốn về mà cứ ngồi lại! Ôi trời, cái bầu tâm sự của tui...!
Thỉnh thoảng lại thấy có mấy bà mẹ qua đét đít con đuổi về! Muốn nhanh chóng rời không khí "chiến trường" đang bắn nhau ầm ầm này!
Mà cậu bạn mãi vẫn biến bóng!